Áo dài chứa đựng bề dày lịch sử, quan niệm thẩm mỹ, ý thức và tinh thần dân tộc, từ lâu đã trở thành “quốc phục” trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam.
Bởi thế mà nhiều năm nay, đã có không ít hoạt động quảng bá, đưa áo dài trở thành trang phục thường ngày và giới thiệu đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Thế nhưng việc công nhận áo dài là di sản quốc gia vẫn chưa có tín hiệu, khi trước đó đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận. Việc “định danh” áo dài sẽ là cơ sở quan trọng, để xây dựng chiến lược quảng bá hình ảnh áo dài Việt Nam, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa.
Miệt mài với quảng bá
Nhìn lại lịch sử, áo dài đã có một vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa người Việt. Nó không ngừng phát triển và ngày càng hoàn thiện với những giá trị riêng. Áo dài trở thành biểu tượng trang phục của văn hóa Việt Nam. Mỗi người Việt dù trong hay ngoài nước, khi mang trên mình chiếc áo dài đều tự hào về ý nghĩa thiêng liêng, bản sắc văn hóa và cội nguồn dân tộc.
Từ ý nghĩa tốt đẹp đó, nhiều năm trở lại đây, các tỉnh, thành phố đã và đang rất tích cực trong việc tổ chức chương trình, sự kiện, xây dựng đề án để quảng bá áo dài; đưa trở lại cuộc sống những chiếc áo dài xưa; tôn vinh nét đẹp của áo dài hôm nay…
Mới đây, trong khuôn khổ Lễ hội Sen Hà Nội 2024 lần thứ nhất (từ ngày 12 đến 16/7/2024), UBND quận Tây Hồ và Câu lạc bộ Di sản Áo dài thành phố Hà Nội đã tổ chức cuộc diễu hành của hơn 1.000 người, tương ứng với hơn 1.000 tà áo dài đủ màu sắc gắn với họa tiết hoa sen, xác lập kỷ lục “Số người mặc áo dài truyền thống họa tiết hoa sen nhiều nhất Việt Nam”.
Nhắc đến quảng bá áo dài những năm qua, không thể không nhắc đến điểm sáng Thừa Thiên Huế. Bằng nhiều việc làm và hành động cụ thể, Thừa Thiên Huế đang hiện thực hóa các nội dung trong Đề án “Huế – Kinh đô Áo dài”.
Mục tiêu của đề án này là đến năm 2025, tỉnh sẽ hình thành bộ cơ sở dữ liệu, hình ảnh áo dài Huế qua các thời kỳ; Tổ chức định kỳ Tuần lễ Áo dài cộng đồng Huế trở thành điểm nhấn quan trọng trong lễ hội địa phương, đặc biệt là Festival; Xây dựng bộ truyền thông về áo dài Huế; Tạo lập và quản lý nhãn hiệu “Huế – Kinh đô Áo dài”; Hình thành 1 sản phẩm du lịch gắn với áo dài Huế… Hiện nay Huế đang trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hồ sơ công nhận “Nghề may đo áo dài và Tập quán sử dụng áo dài truyền thống Huế” là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Tại TPHCM, Lễ hội Áo dài được tổ chức lần đầu năm 2014, đến nay trở thành sự kiện có quy mô lớn, ngày càng được nâng tầm về nội dung, hình thức, đã trở thành sản phẩm văn hóa du lịch độc đáo, thu hút hàng nghìn người tham gia. Lễ hội góp phần tôn vinh, khẳng định nhiều giá trị tinh hoa của áo dài Việt Nam, nâng nét đặc sắc của trang phục này lên tầm cao mới.
Không chỉ tích cực triển khai các lễ hội, nhiều chương trình về áo dài được tổ chức định kỳ nhằm đưa vào cuộc sống. Năm 2019, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức sự kiện với chủ đề “Áo dài – Di sản Văn hoá Việt Nam”. Từ đó đến nay, ngay cả trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, Tuần lễ áo dài vẫn được tổ chức đều đặn hằng năm vào tuần đầu của tháng 3 – tháng có ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3).
Từ sáng kiến này, nhiều hoạt động tôn vinh áo dài Việt Nam đã được triển khai sôi nổi, đa dạng, rộng khắp trên phạm vi cả nước, như: Cuộc thi ảnh đẹp áo dài; thi tìm hiểu giá trị áo dài; các cuộc đồng diễn, diễu hành với quy mô lớn xác lập kỷ lục Guinness Việt Nam. Đặc biệt là những hoạt động có ý nghĩa như: Tặng áo dài cho phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn của Hội phụ nữ nhiều địa phương; khóa học “Cắt may và thiết kế áo dài” trực tuyến miễn phí cho gần 8.500 học viên trên cả nước của nhà thiết kế Đỗ Trịnh Hoài Nam phối hợp với Trung ương Hội tổ chức; cuộc vận động thiết kế áo dài “Tự hào áo dài Việt”…
Cùng với sự nỗ lực của các địa phương và tổ chức đoàn thể, thời gian qua, nhiều doanh nghiệp du lịch, thời trang và cả người dân đã khai thác hình ảnh áo dài vừa để quảng bá, tôn vinh, lan tỏa niềm tự hào Việt Nam, vừa nhằm phát triển kinh tế. Không ít doanh nghiệp đã nỗ lực quảng bá áo dài qua các chương trình nghệ thuật và sàn diễn thời trang. Cơ sở sản xuất đồ lưu niệm cũng tranh thủ đưa ra những tem phiếu, post card, tranh ảnh, đồ đạc để quảng bá. Các địa phương khuyến khích du khách đến Việt Nam mặc áo dài để trải nghiệm, check-in địa điểm mang tính đặc trưng văn hóa truyền thống. Nhiều nhà thiết kế đóng góp các bộ sưu tập áo dài, đưa hình ảnh áo dài Việt Nam lên sàn diễn quốc tế…
Có thể nói, đây là nỗ lực không ngừng để tiếp tục khẳng định một di sản văn hóa truyền thống, góp phần đưa vào cuộc sống đương đại, tỏa sáng như vốn đã từng.
Những ví dụ trên cũng cho thấy, chúng ta đã và đang cố gắng quảng bá hình ảnh áo dài, không chỉ áo dài hiện đại mà còn áo dài ngũ thân xưa kia. Thậm chí, nhiều cơ sở may và cho thuê áo dài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế cũng được hình thành, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ khách du lịch. Các điểm du lịch, không khó bắt gặp du khách mang áo dài tham quan. Du khách đến Huế yêu thích tà áo dài, tìm đến tà áo dài nhiều hơn, là một trong những thành công bước đầu từ khi đề án được triển khai.
Ở những nơi khác, ngày càng nhiều người trẻ quan tâm đến phục dựng trang phục cổ truyền, hay sáng tạo dựa trên giá trị truyền thống để làm mới hơn áo dài Việt Nam.
Nhiều đề án, lễ hội được triển khai mạnh mẽ, thiết thực, có sức lan tỏa trong cộng đồng. Trên hết, chiếc áo dài giờ đây đã ngấm vào tiềm thức của người dân giống như “quốc phục”, để mỗi khi được mặc lên, ai cũng tự hào về trang phục dân tộc. Nhiêu đây thôi, nếu xét tiêu chí ghi danh áo dài thành di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước UNESCO, thì chúng ta đủ sức đáp ứng yêu cầu cao nhất, là sức sống của di sản trong cộng đồng.
Việc khẳng định quyền sở hữu trí tuệ, ghi danh di sản áo dài ở Việt Nam cần phải được thực hiện ngay để tránh câu chuyện mất thương hiệu, rất vất vả mới giành lại được như nước mắm Phú Quốc, cà phê Trung Nguyên hay kẹo dừa Bến Tre.
Còn nhiều “tâm tư”
Trải qua bao thăng trầm, áo dài giờ đây không chỉ là biểu tượng cho hình ảnh phụ nữ Việt Nam, còn đại diện cho văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam ra thế giới. Chúng ta có thể hãnh diện và tự hào về áo dài như người Hàn Quốc tự hào về hanbok, người Nhật Bản tự hào về kimono… Nhưng niềm tự hào đó vẫn cần một cơ sở pháp lý.
Trong cuộc sống đương đại, áo dài cùng lúc mang nhiều tiêu chí thuộc các ngành công nghiệp văn hóa khác nhau (đã được xác định trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa thủ tướng phê duyệt năm 2016, gồm 12 ngành). Từ đây, nếu công nhận áo dài sẽ tạo thuận lợi để nhà thiết kế, nhà sản xuất, nhà sưu tập góp phần “định danh” – “định vị” áo dài trên thị trường thời trang, thị trường văn hóa sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia.
Việt Nam đang hướng tới đưa áo dài trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, xa hơn nữa là đề nghị UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này vẫn còn nhiều việc cần làm. Chúng ta phải có bộ hồ sơ đầy đủ, toàn diện về kỹ thuật, mỹ thuật đến nguồn gốc lịch sử.
Theo nhà thiết kế Lan Hương, để được UNESCO công nhận, áo dài Việt Nam còn rất nhiều rào cản. Trước hết phải được công nhận là quốc phục. Hiện chúng ta mới chỉ gọi là áo dài truyền thống. Hơn nữa, chúng ta đang thiếu sự cân bằng giữa áo dài nam và nữ. Trang phục cho nữ rất tốt rồi, nhưng áo dài cho nam đang gây nhiều tranh cãi. Bên cạnh đó trong quá trình xây dựng hồ sơ, phải chứng minh được áo dài đi vào cuộc sống như thế nào? Người dân có nhu cầu sử dụng ra sao?
Chỉ ra những khúc mắc trong việc công nhận áo dài là di sản quốc gia, PGS.TS Phạm Văn Dương – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, có một điều mà các nhà khoa học chưa thống nhất được, là hình thái của chiếc áo dài, chọn ra đâu là hình thái chuẩn mực (Tứ thân hay là Ngũ thân), bởi khi đăng ký phải là một hình thái rất cụ thể. Điều này đòi hỏi nghiên cứu khoa học và chắt lọc, nhằm xác lập nhận diện chuẩn mực.
Chia sẻ thêm về “địa vị pháp lý” của áo dài, ông Dương cho rằng, cần nghiên cứu bài bản để đưa ra cơ sở lịch sử, hình thành và phát triển áo dài Việt Nam, từ đó nhận diện giá trị cốt lõi, công nhận áo dài ở bình diện quốc gia rồi quốc tế. Sau đó có định chế cho áo dài, xác định đây là lễ phục hay là quốc phục.
“Khi chúng ta xác lập sở hữu cho áo dài, bất cứ ai muốn sử dụng hay lấy cảm hứng từ trang phục đó cũng phải ghi danh Việt Nam trong trang phục của họ. Trong sự kiện quốc tế lớn, các nhà thiết kế nổi tiếng chỉ cần lấy một số nét từ trang phục truyền thống của Việt Nam, cũng đã là thành công rất lớn.” – ông Dương nêu quan điểm.
Trước mắt, con đường ghi danh áo dài là di sản quốc gia vẫn còn nhiều gian nan. Nhưng nếu không có việc làm thiết thực để tạo lập hồ sơ, sẽ là sự lãng phí tài nguyên văn hóa.
Hơn nữa, viễn cảnh áo dài trở thành quốc phục luôn được người dân chờ đợi. Vì vậy cần đẩy nhanh tiến độ giúp áo dài sớm ghi danh tại Việt Nam, hướng tới ghi danh quốc tế. Điều này không chỉ tạo động lực quảng bá trang phục truyền thống Việt Nam, còn làm nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển thời trang, gắn với kỳ vọng của ngành công nghiệp văn hóa quốc gia.
(Nguồn báo Đại Đoàn Kết)